Chiếc mặt nạ Khmer huyền bí

Trà VinhTại huyện Trà Cú, nghề làm mão, mặt nạ mang tính “cha truyền con nối” vì không phải chỉ am hiểu văn hóa, lịch sử mà còn đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ.

Trà Vinh có khoảng 330.000 người dân tộc Khmer (chiếm 31% dân số), với 143 chùa Khmer kiến trúc độc đáo. Chùa không những là nơi gìn giữ các giá trị tâm linh, tín ngưỡng sâu sắc mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa của đồng bào Khmer. Du khách đến đây không chỉ được tìm hiểu về kiến trúc văn hóa tâm linh, mà còn có thể thưởng thức các loại hình nghệ thuật độc đáo từ dàn nhạc ngũ âm đến các điệu múa dân tộc như múa trống Chhay-dăm, múa Rô Băm hay hát Aday, hát Dù Kê… cùng với tham quan tìm hiểu và cùng nghệ nhân chế tác mặt nạ truyền thống.

Trong các loại hình nghệ thuật diễn xướng, múa hát truyền thống của người Khmer ở Nam Bộ, mão và mặt nạ là hai loại phục trang đặc biệt mang đậm màu sắc huyền bí, linh thiêng, thể hiện đậm chất văn hóa dân gian của người Khmer Nam Bộ. Người Khmer Nam Bộ gọi những chiếc mũ mang hình đầu các nhân vật hoặc linh vật trong văn hóa tín ngưỡng dân gian là mão.

Du khách thử đeo mặt nạ Khmer.

Du khách thử đeo mặt nạ Khmer.

Tôi có dịp được đến nhà nghệ nhân Kim Mạnh ở xã Thanh Sơn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh để tìm hiểu về nghề gia truyền độc đáo này. Ông là người có thâm niên gần 30 năm trong nghề làm mão và mặt nạ, là một trong 4 hộ gia đình còn lưu giữ nghề này của cả tỉnh Trà Vinh. Nghệ nhân cho biết, rất mừng là xã, huyện và tỉnh đã hỗ trợ xây hẳn một không gian văn hóa, nơi chế tác mặt nạ Khmer cho gia đình nghệ nhân làm việc thường xuyên chứ không cần đợi đơn đặt hàng như trước.

Nghề làm mão, mặt nạ là nghề mang tính “cha truyền con nối” vì không những phải am hiểu sâu sắc văn hóa, lịch sử và các loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer mà còn đòi hỏi đôi bàn tay khéo léo, tỉ mỉ. Để làm ra một chiếc mão hay mặt nạ người nghệ nhân phải trải qua một số công đoạn như: tạo khuôn, đắp vải hoặc dán giấy và sơn trang trí hoa văn và dù phải tuân thủ nhiều nguyên tắc cơ bản, nghệ nhân vẫn được sáng tạo theo phong cách riêng.

Để tạo khuôn mão, mặt nạ, các nghệ nhân thường dùng đất sét nhão để nhồi nặn, tạo thành hình đầu và các chi tiết mắt, mũi, miệng, tai… rồi mang đi phơi khô. Ngày nay, nhiều nghệ nhân thường dùng xi măng để tạo khuôn. Cách này có ưu điểm là khuôn được tái sử dụng nhiều lần.

Khuôn sau khi khô, người làm sẽ dùng vải (vải màn hoặc vải thô cắt nhỏ khoảng 5×7 cm) hoặc giấy bìa, giấy báo nhúng vào keo rồi dán lên khuôn đất. Keo ở đây có thể được lấy từ nhựa của trái thon hop còn xanh (giống trái mù u, một loại cây ở địa phương) hoặc dùng hồ dán hay các loại keo công nghiệp.

Nghệ nhân Kim Mạnh vừa ngồi vẽ và sơn trang trí mặt nạ vừa say sưa kể các công đọan thực hiện.

Nghệ nhân Kim Mạnh vừa ngồi vẽ và sơn trang trí mặt nạ vừa say sưa kể các công đọan thực hiện.

Khuôn đất được bồi đắp bằng 8 đến 12 lớp vải hoặc giấy để tạo một độ dày và cứng nhất định cho mão, mặt nạ. Khuôn sau khi được bồi vải hoặc giấy xong đem phơi khô cho các lớp vải hoặc giấy kết dính chắc lại rồi đập bỏ phần khuôn đất sét bên trong, như vậy là đã có được một chiếc mão hoặc mặt nạ thô như ý. Riêng chiếc mão còn phải thực hiện thêm công đoạn tạo hình cho phần đỉnh đầu rồi mới trang trí hoa văn, sơn tạo màu sắc. Tùy vào nhân vật cần tạo hình như: bà chằn, khỉ Hanuman, hoàng hậu, công chúa, mặt hề… mà người nghệ nhân phải tuân thủ những quy chuẩn tạo dáng, màu sắc và hoa văn đặc trưng riêng, rất chặt chẽ, không thể sai phạm. Có khi mất cả tháng mới làm được một chiếc mão hay mặt nạ.

Mão cho các nhân vật như hoàng hậu, công chúa, chằn đều phải tạo hình chóp nhọn, trên đỉnh đính hoa văn, tiêu biểu như hoa văn ngọn lửa biểu trưng cho sức mạnh quyền uy, hoa văn hoa lá biểu trưng cho sự sáng láng thanh cao… Đối với bộ mặt nạ Krap là mặt nạ hình người thể hiện sự hỉ, nộ, ái, ố gồm 6 cái, màu da người hoặc trắng, mỗi cái có đặc điểm riêng, thể hiện tính cách riêng của từng nhân vật, như có cái miệng mèo, cái miệng rộng, cái mũi to, cái mắt hí, cái miệng không răng.

Theo nghệ nhân, trong các sản phẩm văn hóa của người Khmer, mão và mặt nạ Chằn là độc đáo nhất. Trong các ngôi chùa Khmer, Chằn thường đứng theo cặp đôi song song hai bên cổng chùa hoặc đứng xung quanh chánh điện, được thể hiện dưới dạng người cao lớn với gương mặt hung dữ, mắt trợn to, miệng rộng, lưỡi đỏ, răng nanh nhọn lởm chởm, đầu đội mũ hình tháp (Stupa), mình mặc giáp trụ, chân đi hài, hai tay chống lên cây trùy giống như kiểu tượng của thần Vishnu (thần bảo tồn) hay Dvarapala (thần hộ pháp) trong điêu khắc Đông Nam Á. Còn trong các lễ nghi tín ngưỡng dân gian Khmer với truyền thống nông nghiệp đã biết cách dung hòa tín ngưỡng liên quan đến chằn và Phật giáo, mượn hình ảnh Chằn để hể hiện ước muốn xua đuổi điều dữ, đón sự an lành, may mắn trong đời sống. Chằn xuất hiện với chức năng như vị thần bảo vệ người dân, bảo vệ chùa mang ý nghĩa: cái thiện chiến thắng cái ác, chính nghĩa thắng hung tàn. Cái tính triết lý sâu xa là ác không chắc là ác, và thiện không chắc là thiện.

Hứng thú nhất là lúc nghe nghệ nhân giảng giải về cách sử dụng. Các loại mão, mặt nạ này thường được sử dụng trong những dịp lễ, tết truyền thống của người Khmer như: Tết Chol Chnam Thmay, lễ hội Ok Om Bok, lễ hội Đôn Ta… hay được trình diễn trong các loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer như: múa Rô băm, múa Chhay dăm, hát Aday, hát Dù Kê… Trong nghệ thuật biểu diễn của người Khmer, mão và mặt nạ là đạo cụ hóa trang để nhân vật nhập vai diễn.

Khi đã đội mão hay đeo mặt nạ, người diễn viên không còn là chính họ nữa, họ hóa thân xuất thần trong nhân vật, nhất là làm sống dậy các nhân vật thần thoại. Các nghệ sĩ muốn hướng người xem đến với nghệ thuật trong nghệ thuật vì mặt nạ và mão vốn vô tri vô giác nhưng thực chất nó là cả một nghệ thuật tạo hình công phu.

Nếu đội mão và mặt nạ Chằn lần đầu, chắc chắn bạn có cảm giác đầu nặng trĩu. Vì thế bạn sẽ càng hiểu rõ giá trị của người nghệ sĩ biểu diễn loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo này.

Tủ kệ trưng bài những chiếc mặt nạ trong nhà nghệ nhân.

Tủ kệ trưng bài những chiếc mặt nạ trong nhà nghệ nhân.

Không chỉ có người Khmer mà từ thời cổ đại, trên thế giới cũng có nhiều nơi sử dụng mặt nạ trong lễ hội hóa trang, các nghi lễ cầu nguyện cho một vụ mùa bội thu, trị bệnh, xua đuổi tà ma. Mặt nạ được ví như một chiếc “khẩu trang” trong hình dạng của một vị thần để bảo vệ con người, và chống lại linh hồn ma quỷ hoặc kẻ thù bên ngoài hệt như cách chúng ta đeo khẩu trang ngăn ngừa Covid hiện nay.

Phan Yến Ly